Thursday, January 12, 2006

Hãy sống theo quy luật



06/08/2005 10:20:39 AM


Sự phát triển cá tính con người thực sự bắt đầu khi người ta nhận ra điều thật giản dị là chính các quy luật là yếu tố tối hậu quyết định mọi việc chứ không phải chính bản thân chúng ta.

Ở đây tôi không muốn bàn về "đạo đức" và "giá trị" bởi vì theo tôi các từ ngữ đó ẩn chứa ý nghĩa về hành vi tình thế, niềm tin chủ quan, tập quán xã hội hay văn hóa- có thể gọi chung là những "sự thật tương đối". Ở đây tôi muốn bàn về những quy luật chung của tự nhiên và xã hội hiển nhiên hơn là những sự thật tương đối đó. Bạn có thể nghĩ rằng đó chẳng qua là vấn đề về ngữ nghĩa và lý luận rằng khi mọi người nói về giá trị, chính là họ nói về những quy luật chung này. Tôi cho rằng quy luật và giá trị là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Hitler là một người sống theo giá trị; Saddam Hussein là một người sống theo giá trị. Mọi cá nhân và tổ chức đều bị điều chỉnh bởi những điều mà đối với cá nhân và tổ chức đó coi là quan trọng, cái đó gọi là giá trị. Nhưng cá nhân hay tổ chức đó chưa hẳn đã thực sự có đạo đức, hay nói theo cách khác đã sống theo quy luật.

Cái giản dị của Quy luật

Bí quyết sống là lấy quy luật làm tâm điểm cho cuộc sống. Chúng ta không nắm toàn quyền kiểm soát, quy luật mới là yếu tố điều khiển tối hậu. Chúng ta quá tự kiêu khi chúng ta nghĩ rằng chúng ta nắm quyền kiểm soát. Đúng, chúng ta có thể kiểm soát hành động của mình, nhưng làm sao mà điều khiển được hậu quả của những hành động đó. Vì thế, nói cho cùng hậu quả đó chịu sự điều khiển của các quy luật, các luật của tự nhiên.

Quá trình xây dựng cá tính và sáng tạo chất lượng cuộc sống chính là quá trình sắp xếp, sửa đổi các hành vi và niềm tin của chúng ta cho phù hợp với quy luật của vũ trụ. Các quy luật này không gắn liền với một cá nhân cụ thể nào, quy luật là những sự thật khách quan nằm ngoài chúng ta và hiển nhiên đúng. Các quy luật tác động đến cuộc sống của chúng ta bất luận ta có biết đến quy luật và tuân thủ quy luật hay không.

Nếu lối sống của bạn hiện nay không hoàn toàn phù hợp với các quy luật, có lẽ đây là thời điểm thích hợp để bạn đổi cách cầm lái cuộc đời mình: đổi một tấm bản đồ mang tên "giá trị" lấy một chiếc la bàn (compas) mang tên "quy luật". Khi bạn nhận ra rằng những quy luật và thực tiễn nằm ngoài chúng ta mới là yếu tố tối hậu quyết định điều gì sẽ xảy ra, bạn sẽ nhận ra một điều rằng những gì bạn coi là quan trọng (giá trị) chỉ là yếu tố thứ yếu cần phải được điều chỉnh cho phù hợp với quy luật. Mục đích, vai trò, kế hoạch và hoạt động của mỗi người cần phải được điều chỉnh cho phù hợp với quy luật. Đáng tiếc là người ta thường chỉ thấy cần phải điều chỉnh khi người ta gặp phải những cơn khủng hoảng trong cuộc đời kiểu như: công ty giảm biên chế; việc làm có nguy cơ bị mất; quan hệ với thủ trưởng có vấn đề; thất bại lớn trong thi đấu; hôn nhân bị đe dọa, khó khăn tài chính trầm trọng, hoặc nhận được chẩn đoán của bác sĩ rằng mình chỉ còn sống được vài tháng nữa mà thôi. Thiếu những cuộc khủng hoảng đó, người ta như thiếu chất xúc tác để thay đổi vậy. Chúng ta có thể bị tê liệt sống trong những bận rộn hàng ngày, làm những việc tốt, dễ dàng và lặp đi lặp lại và quên không nghĩ đến việc tại sao không tạm dừng và tự hỏi mình những việc mình đang làm có phải là việc quan trọng và cần thiết hay không? Trong trường hợp này, cái "Tốt" trở thành điều cản trở cái "Tốt nhất" (The good, then, becomes the enemy of the best). Khiêm tốn là mẹ của đạo đức, bởi vì tinh thần khiêm tốn giúp người ta khai nhãn giới để hiểu được những quyền năng cao hơn mình, dần dần từng bước sửa đổi mình sao cho mình sống hòa hợp với quy luật của vũ trụ. Dũng cảm là cha của đạo đức, bởi vì mỗi người đều cần rất nhiều lòng dũng cảm để sống theo đúng quy luật, để trung thực với chính mình trong từng "khoảnh khắc chọn lựa" của hành vi. Trước đây, khi chúng ta tự xây dựng hệ thống "giá trị" của riêng mình và kiểm tra hệ thống đó qua giao tiếp xã hội rồi sau đó triển khai mục đích, lý tưởng của mình dựa trên những gì mà chúng ta coi là quan trọng,

Chúng ta sống theo xu hướng tự mình làm ra luật điều chỉnh hành vi của chính mình, sống độc lập và đầy tự hào. Nhưng Tự hào chỉ có tác dụng gây ấn tượng trong khi đó Khiêm tốn mới thực sự có quyền năng đem lại thành công thực sự. Đạt được cái gì đó mà ta coi là quan trọng không chắc gì đã làm tăng chất lượng cuộc sống của ta. Những phong trào "tăng chất lượng" dù là của nhà nước, doanh nghiệp hay tổ chức giáo dục không thể thành công nếu không dựa vào những quy luật, coi quy luật là chiếc kim của la bàn. Ấy thế mà, chúng ta vẫn thường thấy những nhà lãnh đạo cố bám mãi vào kiểu lãnh đạo xưa cũ dựa trên những giá trị do họ tùy chọn và những thói quen xấu mặc dù con tàu họ lái đang sắp đắm trong khi họ có thể vẫn an toàn ngồi trên chiếc phao cứu sinh của quy luật. Không có gì hủy hoại sự nghiệp của người ta nhanh bằng sự kiêu ngạo. Tính kiêu ngạo luôn nhắc nhở người ta "Tôi biết rõ nhất". Khi ta khoác lên mình bộ trang phục Kiêu ngạo chúng ta luống cuống, lúng túng trong hành vi vì sợ lòng Tự hào sẽ đến và đi quá nhanh. Nhưng nếu ta đổi sang bộ cánh Khiêm tốn, chúng ta sẽ tiến bộ thực sự. Như nhân vật Indiana Jones đã học được trong truyên "The Last Crusade", "kể biết sám hối sẽ vượt qua được". Khi chúng ta quá đắm chìm trong niềm tự hào, chúng ta thường phạm sai lầm là gieo một hạt giống này mà lại muốn thu hoạch một vụ mùa kia. Thế giới quan của chúng ta và những quá trình, thói quen mọc trên thế giới quan đó sẽ không thể nào sản sinh ra được vụ mùa chúng ta mong đợi nếu thế giới quan đó dựa trên những ảo ảnh, những từ ngữ quảng cáo, những cuộc huấn luyện ngắn hạn và những chiến thuật tìm kiếm thành công dựa trên những thủ thuật tạo dáng để lấy lòng người (personality-based success strategies). Chất lượng cuộc sống không bắt nguồn từ ảo ảnh. Vậy chúng ta phải làm thế nào để sống phù hợp với những quy luật vốn là thực tại khách quan điều chỉnh chất lượng cuộc sống của chúng ta?

Bốn phẩm chất của con người

Là con người, chúng ta có bốn phẩm chất đặc trưng là tự nhận thức (self-awareness), ý thức (conscience - sự tự nhận thức về cái đúng, cái sai trong hành vi của mình - chú thích của người dịch), độc lập ý chí (independent will), và Trí tưởng tượng (creative imagination). Bốn phẩm chất này không chỉ làm cho chúng ta khác với loài vật, mà còn giúp chúng ta phân biệt được giữa thực tế và ảo ảnh, để có được quyền năng biến chiếc đồng hồ thành chiếc la bàn, để có khả năng sống theo những quy luật khách quan quyết định chất lượng cuộc sống.

Khả năng tự nhận thức cho phép chúng ta tự xem xét thế giới quan (paradigms - cái thấu kính mà qua đó chúng ta nhìn thấy thế giới cấu tạo bằng tri thức có được và trường đời mà ta đã trải qua - chú thích của người dịch) của mình. Khi đó ta có thể vừa nhìn thấy cái thấu kính đó, vừa nhìn thấy những gì mà ta nhìn thấy qua chính cái thấu kính đó, có thể nghĩ về ý nghĩ của chính mình, có thể nhận ra được cái "chương trình phần mềm tâm lý" đã được cài đặt trong mỗi chúng ta, và nhờ đó chiếm lại được quyền năng chọn lựa cách phản ứng lại một cách có ý thức đối với những tác động của tự nhiên và xã hội mà ta nhận được hàng ngày. Với khả năng tự nhận thức, ta có thể thay đổi cái chương trình phần mềm kia, hay nói cách khác là viết lại kịch bản cuộc đời mình thay vì để mặc cho cái chương trình, kịch bản kia nó điều khiển mình. Rất nhiều chương trình tâm lý, giáo dục va đào tạo tập trung vào củng cố khả năng tự ý thức. Hầu như quyển sách nào về vấn đề tự tu dưỡng cũng đều tập trung khuyến khích khả năng này của người ta mà thôi.

Tuy nhiên, tự nhận thức mới chỉ là một trong bốn phẩm chất đặc biệt của loài người mà thôi. Ý thức là phẩm chất giúp chúng ta hiểu được cái ở trong nội tâm chúng ta sâu xa hơn ý nghĩ và cái ở bên ngoài chúng ta đáng tin cậy hơn những điều mà chúng ta coi là quan trọng. Ý thức giúp chúng ta kết nối được với cái khôn ngoan của tuổi tác và của lòng tốt. Ý thức là hệ thống tự dẫn dắt ở bên trong chúng ta có khả năng giúp ta cảm nhận đồng thời với khi ta hành động, hoặc thậm chí có thể hình dung được hành động hoàn toàn trái ngược với những điều mà ta coi là quan trọng nhất và cả những quy luật đúng đắn nhất. Ý thức là cái rất chung.

Khi giúp các công ty và các cá nhân tự viết ra bản mục đích hành động (mission statements), tôi đã phát hiện được một điều thú vị, cái riêng tư nhất lại chính là cái chung nhất (what is most personal is most general). Con người dù là theo tôn giáo nào, thuộc nền văn hóa nào, thân phận ra sao đều phải giải quyết những nhu cầu căn bản của con người (và các nhu cầu này đều giống nhau) để sống (nhu cầu thể chất và tài chính), để yêu (nhu cầu xã hội), để học (nhu cầu giáo dục), và để có thể để lại cái gì đó cho đời (nhu cầu tinh thần).

Độc lập ý chí chính là khả năng hành động của chúng ta, là quyền năng vượt qua giới hạn của thế giới quan, vượt qua khó khăn để viết lại kịch bản cuộc đời mình, để hành động dựa trên quy luật thay vì phản ứng một cách vô thức (reacting) tùy thuộc vào xúc cảm, hứng thú hay hoàn cảnh. Mặc dù môi trường và gen di truyền có ảnh hưởng cực kỳ mạnh đến chúng ta, những yếu tố đó không điều khiển chúng ta. Chúng ta không phải là nạn nhân. Cuộc sống của chúng ta không phải là kết quả của quá khứ của chính chúng ta. Cuộc sống của chúng ta là kết quả của sự lựa chọn của chúng ta. Chúng ta tự chịu trách nhiệm về cuộc đời mình (responsible) đồng nghĩa với chúng ta có nghị lực để chọn lựa phương án hành vi của mình ("response-able"). Khả năng lựa chọn phương án hành vi chính là một khía cạnh của độc lập ý chí.

Trí tưởng tượng chính là khả năng của mỗi chúng ta sáng tạo ra trong trí não những điều vượt quá thực tại hiện thời. Chúng ta sử dụng chính trí tưởng tượng để xác định mục đích cuộc sống của mình (personal mission statements), đặt ra các mục tiêu, lập kế hoạch, hoặc hình dung ra trong trí não làm thế nào để thực hiện được mục đích cuộc sống trong những hoàn cảnh khó khăn, thử thách nhất. Chúng ta có thể tưởng tượng được bất cứ bối cảnh nào mà chúng ta muốn cho dù việc đó chưa bao giờ xảy ra cả. Trí tưởng tượng giúp chúng ta vượt qua hạn chế của ký ức. Ký ức là cái bất biến, thuộc về quá khứ. Trí tưởng tượng là cái khả biến, thuộc về hiện tại và tương lai, với các yếu tố chưa xảy ra nhưng có thể xảy ra như tiềm năng, tầm nhìn, mục tiêu, mục đích. Cách nhìn xưa cũ là muốn thành công thì phải cố gắng hơn nữa. Nhưng mọi nỗ lực đều sẽ trở nên yếu và kém hiệu quả nếu sức mạnh ý chí không có sự hỗ trợ của trí tưởng tượng đầy sáng tạo.

Hãy chăm sóc những phẩm chất riêng có của mình

Để củng cố những phẩm chất quý báu trên, chúng ta cần phải chăm sóc và tập luyện liên tục. Làm như anh thợ mài cưa rửa đục một tuần, hay một tháng một lần không đủ. Làm như vậy là quá nông cạn. Chăm sóc tài năng của mình giống như việc ăn uống. Bữa ăn ngày hôm qua không làm dịu cơn đói ngày hôm nay. Một bữa no Chủ Nhật tuần trước chẳng thể nào chuẩn bị cho bạn cho thách thức (về đạo đức) ngày Thứ Năm tuần này. Tôi sẽ chuẩn bị cho những thách thức đó tốt hơn nếu tôi thiền định mỗi buổi sáng và tưởng tượng ra hình ảnh bản thân mình giải quyết mỗi thử thách với cố gắng đích thực, với sự cởi mở, trung thực, và với số lượng trí khôn tối đa tôi có thể mang theo được.

Đây là bốn cách để chăm sóc những phẩm chất đặc trưng của mỗi chúng ta.

Chăm sóc khả năng tự nhận thức bằng cách ghi nhật ký hay lịch làm việc. Hàng ngày mà ghi chép và phân tích được những gì mình đã trải qua là một việc làm có hiệu quả rất cao vừa tăng cường khả năng tự nhận thức, vừa chăm sóc các phẩm chất khác đồng thời tạo điều kiện để tất cả các phẩm chất tương tác với nhau.

Giáo dục ý thức của mình bằng cách học, lắng nghe và phản ứng lại với hoàn cảnh. Hầu hết chúng ta đều đang sống và làm việc trong những môi trường có tác động khá xấu đối với sự phát triển của ý thức. Để nghe thấy tiếng nói thì thầm của ý thức thường đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ thật sâu sắc hoặc thiền định về một điều kiện mà chúng ta ít khi lựa chọn hoặc bắt gặp. Bởi vì có quá nhiều tác động, từ các hoạt động hàng ngày, tiếng ồn, thông tin đại chúng, các điều kiện hoàn cảnh khác đến những thế giới quan (paradigm) có khuyết tật, độ nhạy cảm của chúng ta để có thể cảm nhận được tín hiệu yếu ớt từ trong ý thức, tín hiệu có thể chỉ ra được đâu là những quy luật của cuộc sống, và mức độ tương thích giữa hành vi của chúng ta với những quy luật đó. Tôi đã từng nghe thấy nhiều quan chức của các công ty nói rằng họ không thể thắng trong cuộc chiến ý thức, bởi vì thuyết "chỉ cần mục đích bất chấp thủ đoạn" (expediencies) đòi hỏi họ phải nói dối, che giấu sự thật, lừa dối, hoặc dùng thủ đoạn. Họ bảo tôi rằng, đó là một phần của nghề nghiệp mà họ theo đuổi. Tôi không nhất trí với quan điểm này. Tôi cho rằng kiểu lý luận đó sẽ phá hỏng lòng tin trong tổ chức công ty của họ. Nếu họ dung túng kiểu thao túng công ty sau cánh gà và nói xấu lẫn nhau, họ sẽ có một kiểu văn hóa thiếu lòng tin trong công ty. Một cuộc sống trung thực và có đạo đức (a life of total integrity) là điều duy nhất đáng để mà theo đuổi. Một khi đã chọn, đó là một cuộc vật lộn. Một vài cố vấn quan hệ đối ngoại, kế toán, cố vấn pháp lý có thể sẽ khuyên "Làm thế thì coi như là tự sát chính trị rồi" hoặc là "Việc này có tác động rất xấu đến danh tiếng của chúng ta, vì thế nên bưng bít và nói dối thì hơn". Bạn phải xem xét từng trường hợp cụ thể. Không có trường hợp nào là đúng cả hay sai cả. Và vai trò của bạn thực sự như một quan tòa đưa ra phán quyết việc gì nên làm. Bạn có thể cảm thấy việc này là rất khó khăn, nhưng với một ý thức có giáo dục hay nói cách khác là một chiếc la bàn bên trong, ít khi bạn sẽ gặp phải hoàn cảnh mà chỉ có một lựa chọn là phải làm điều xấu. Bạn sẽ luôn luôn có những phương án khác nữa. Nếu bạn sử dụng đúng những phẩm chất loài người của mình, bạn sẽ nhìn thấy những lựa chọn có tính đạo đức hơn. Vì thế việc này phụ thuộc rất nhiều vào việc bạn đã giáo dục ý thức của mình như thế nào. Khi các con tôi tập thể thao, chúng phải trả giá để tập luyện sao cho cơ thể phối hợp ăn ý với tinh thần. Bạn cũng vậy, bạn cần phải thường xuyên tập luyện với ý thức của mình. Ý thức càng không chắc chắn bao nhiêu thì số trường hợp không biết nên hành động như thế nào càng tăng. Tất nhiên, thế nào cũng còn trường hợp khó, đó là những trường hợp đỉnh điểm của tri thức và kinh nghiệm. Để trưởng thành, bạn cần phải tiến về phía đỉnh điểm ấy, học cách sáng tạo ra những phương án mà bạn, khi suy nghĩ trung thực nhất với lòng mình, nghĩ rằng là điều đúng đắn.

Chăm sóc khả năng độc lập ý chí bằng cách hứa và giữ lời hứa. Một trong những cách tốt nhất để củng cố khả năng độc lập ý chí là hứa và giữ lời hứa. Mỗi lần làm điều đó, ta như vừa gửi được một khoản tiết kiệm vào tài khoản Đạo đức của mình và số tiền gửi là số lượng lòng tin mà ta có vào chính bản thân mình, tin rằng mình có khả năng làm điều mình nói. Để tu dưỡng đạo đức, cần phải bắt đầu bằng hứa và giữ những lời hứa nho nhỏ. Hãy làm dần dần từng bước một.

Phát triển trí tưởng tượng qua tưởng tượng hình ảnh. Tưởng tượng hình ảnh là một hình thức tập luyện tinh thần được các vận động viên và diễn viên nổi tiếng thế giới sử dụng. Hình thức tập luyện này cũng có thể được sử dụng để cải thiện chất lượng cuộc sống của bạn. Ví dụ, bạn có thể tưởng tượng mình ở trong những hoàn cảnh mà thông thường thì có thể gây ra cảm giác đau đớn, khó chịu. Hãy dùng phép phân thân để tự nhìn mình trong hoàn cảnh đó, thay vì phản ứng lại như thông thường, hãy mường tượng mình hành động trên cơ sở những quy luật và giá trị mà bạn đã xác định được. Cách hay nhất để đoán trước được tương lai của mình là sáng tạo ra tương lai đó.

Quả rụng về gốc

Với cái khiêm tốn của kẻ sống theo quy luật, chúng ta sẽ học hỏi được nhiều hơn từ quá khứ, hy vọng vào tương lai và hành động với lòng tự tin, không kiêu ngạo, trong hiện tại. Kiêu ngạo chính là thiếu khả năng tự nhận thức, là mù quáng, là ảo ảnh, là biến dạng của tự tin, và là cảm giác sai lầm rằng chúng ta cao hơn quy luật của vũ trụ. Lòng tự tin đích thực bắt nguồn từ sự bảo đảm chắc chắn rằng nếu chúng ta hành động trên cơ sở quy luật thì kết quả đạt được sẽ là chất lượng cuộc sống cao hơn. Tự tin là sản phẩm của cá tính và năng lực. Bảo đảm chắc chắn trong cuộc sống của chúng ta không dựa trên của cải, địa vị, bằng cấp, cũng không vì ta hơn người khác, mà ngược lại, bắt nguồn từ chính bản thân đạo đức của ta, trên cơ sở những quy luật của muôn đời. Tôi thừa nhận rằng tôi phải đấu tranh vật lộn nhiều để tu dưỡng đạo đức và không phải lúc nào tôi cũng làm được những gì tôi nói ("walk my talk"). Tôi thấy giảng giải đạo đức thì dễ hơn thực hiện những gì tôi vẫn kêu gọi mọi người thực hiện nhiều. Tôi đã nhận thức được rằng tôi phải quyết tâm rèn luyện đạo đức trên cơ sở một hệ thống quy luật đúng đắn. Tôi đã chứng kiến sự thật rằng nếu một người không rèn luyện mình sống theo quy luật, thì vào một thời điểm nào đó trong cuộc đời, người đó sẽ mắc sai lầm mà chọn con đường dẫn đến sự thành đạt theo kiểu "chỉ cần mục đích, bất chấp thủ đoạn" và bỏ mặc cho hoàn cảnh điểu khiển đạo đức của chính mình. Những người như vậy sẽ phát biểu rằng "công việc là công việc", với ý nghĩa rằng họ tự làm ra luật chơi cho cuộc chơi của chính mình. Thậm chí họ còn có thể biện hộ cho cả những hành vi phi đạo đức với danh nghĩa "công việc", mặc dù họ cũng có một bản mục đích hành động đẹp đẽ.

Chỉ có cách sống theo những quy luật "vượt thời gian" chúng ta mới có thể đạt được cuộc sống tốt đẹp về mọi mặt: đạo đức, thể chất, xã hội và tài chính.


Theo Chungta.com

Wednesday, January 11, 2006

Những điều có thể học từ hệ thống giáo dục đại học tại Mỹ


Phan Việt
Bài viết này tập trung trình bày những cái tinh túy nhất mà tôi quan sát được ở những trường học có chất lượng cao tại Mỹ - những điều có thể áp dụng trực tiếp cho đổi mới giáo dục tại Việt Nam. Vì thế, xin bạn đọc đừng cho rằng rằng tôi quá khen hệ thống giáo dục đại học tại Mỹ. Bài này gồm bốn phần: Đào tạo là để làm việc; Sinh viên; Giáo viên; Các vấn đề khác.

Đào tạo là để làm việc
Đào tạo tại Mỹ, nhìn chung, không nhằm vào việc tạo ra những con người hoàn hảo, những trí thức chung chung; mà nhằm đào tạo người để làm việc chuyên môn trong những ngành cụ thể, với những kỹ năng cụ thể, mục đích cụ thể. Để làm điều này, giáo dục đại học của Mỹ chú trọng ít nhất hai điều sau: (1) nó linh động thay đổi việc đào tạo theo nhu cầu của thị trường lao động; và (2) nó khuyến khích sinh viên học theo hướng chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa.
Để làm điều thứ nhất, nó có thể co dãn lượng tiền đầu tư và số lượng sinh viên lấy vào cho mỗi ngành lớn và chuyên ngành hẹp trong đó, tùy theo xu hướng phát triển của xã hội. Ví dụ như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, y tế và vật liệu là những ngành mũi nhọn cho phát triển thì các trường sẽ tăng lượng người nhận cho các ngành này, lấy nhu cầu cao hơn, cấp nhiều học bổng hơn; trong khi đó, nó thu hẹp dần những ngành không còn mấy khả năng ứng dụng như nhân chủng học, sử học, thần học. Hoặc ngành công nghiệp giải trí (phim ảnh, báo chí, thể thao, giải trí nói chung), ngành chăm sóc sức khoẻ tinh thần đang ngày càng bành trướng và là một trong những ngành vẫn tăng trưởng lợi nhuận so với các ngành công nghiệp cũ đang chết dần; thì các trường nói riêng và toàn nền giáo dục nói chung tăng đầu tư cho các ngành đó. Cũng phải nói thêm, điều này thực hiện được là vì các trường học của Mỹ, nhất là trường tư, khá độc lập về tài chính và vận hành không chịu các kiểm soát về khung chương trình bắt buộc hay sử dụng tài chính từ một thứ Bộ hay Sở giáo dục nào; tuy rằng họ cũng có hội đồng kiểm soát riêng.
Để làm điều thứ hai, khi nhận sinh viên vào trường, giáo dục Mỹ áp dụng một mô hình chuyên môn hóa đối với việc học. Thay vì việc dựng một khung chương trình bắt buộc mà tất cả các sinh viên của một ngành học phải theo học giống hệt nhau, các trường Đại học tại Mỹ chỉ yêu cầu sinh viên mỗi ngành học một số lớp cơ bản, có tính nền tảng cho ngành; còn lại, họ được tự do chọn lớp học bổ trợ theo ý họ; sao cho họ có thể củng cố kỹ nhất kiến thức trong chuyên ngành hẹp của mình và trở thành chuyên gia ở lĩnh vực của họ. Lấy ví dụ như trong ngành công tác xã hội; sinh viên sẽ phải học bắt buộc một số lớp về các lý thuyết đưa đến đói nghèo và bất bình đẳng xã hội, về phương pháp nghiên cứu, về phát triển con người, và phải thực tập bắt buộc 2 năm. Nhưng ngoài những đòi hỏi trên, sinh viên sẽ được tự do chọn lớp để học và chọn nơi thực tập sao cho phù hợp nhất. Nếu bạn muốn tập trung vào nhóm đối tượng trẻ em chẳng hạn, bạn có thể học thêm các lớp về sự phát triển sinh lý của trẻ em, về tâm lý trẻ em, về quá trình hình thành nhận thức ở trẻ, về cách mà đứa trẻ học, vân vân... Trong mỗi một lĩnh vực nhỏ này, bạn có thể tự chọn thêm các lớp chuyên sâu; lấy ví dụ như đối với quá trình phát triển tâm lý, bạn lại rẽ nhánh tập trung vào phát triển tâm lý của trẻ bình thường, hay là trẻ bị khuyết tật, hay trẻ nghèo, trẻ sinh trong gia đình mà bố mẹ li dị hoặc liên tục có xung đột. Nói tóm lại là bạn sẽ học tập trung vào một lĩnh vực nhỏ mà bạn có thể ứng dụng để làm việc khi tốt nghiệp.
Sẽ có một vấn đề nảy sinh cho hướng giáo dục này là đôi khi nhà trường không có đủ lớp học và giáo viên cho tất cả các lĩnh vực hẹp trong một ngành. Giả sử như tôi muốn học về thời kỳ thuộc địa tại Việt Nam, tôi sẽ không tìm được lớp học hoặc giáo viên trực tiếp làm về vấn đề này vì, giả sử, khoa sử của trường tôi chỉ tập trung vào mảng lịch sử Mỹ, Châu Âu, Châu Phi và một phần Châu Á (Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ) chứ không có Đông Nam Á. Để giải quyết vấn đề này, các trường học khuyến khích sinh viên đăng ký các lớp học độc lập (independent study hoặc independent reading). Theo cách này, sinh viên sẽ tìm một giáo sư gần nhất với lĩnh vực mà mình quan tâm (ví dụ như tôi tìm giáo sư về chính sách thuộc địa của Pháp); sau đó, sinh viên và giáo sư sẽ tự xây dựng danh sách các sách nên đọc, tự xây dựng lịch đọc, lịch gặp gỡ và nói chuyện về chủ đề, vv... Thậm chí, cho một lớp độc lập như thế, sinh viên có thể cùng lúc học với hai, ba thầy để bổ sung kiến thức cho nhau. Theo cách đó, tôi phải tự đọc và học rất nhiều. Nói tóm lại, sẽ không có chuyện sinh viên tốt nghiệp ra giống hệt nhau về các lớp học và chỉ có kiến thức chung chung; mà thường họ có kiến thức định hướng để áp dụng làm việc.
Nhìn lại giáo dục đại học ở Việt Nam mà tôi biết: hãy lấy ví dụ cụ thể là trường Ngoại thương mà tôi theo học từ năm 1995 đến năm 2000. Trong 5 năm, tất cả sinh viên học các lớp giống hệt nhau: một lớp thanh toán quốc tế, một lớp luật trong ngoại thương, một lớp bảo hiểm, một lớp vận tải; một lớp kế toán – tài chính; thậm chí học cả những lớp như Dân số, Giao tiếp quốc tế, vv... Tốt nghiệp ra, nhìn chung sinh viên đều chỉ có kiến thức chung chung giống nhau, một tí về bảo hiểm, một tí về thanh toán quốc tế, một tí về luật, một tí kế toán, một tí về kỹ năng giao tiếp trong đàm phán, vv... Khi đi làm cụ thể, sinh viên rất lúng túng và hầu như sẽ phải tự đào tạo lại. Lẽ ra, chỉ nên có một số lớp bắt buộc; còn lại, sinh viên nếu muốn chuyên sâu vào bảo hiểm hàng hoá trong ngoại thương thì nên chỉ chọn học các lớp chuyên sâu; sinh viên muốn làm về thanh toán quốc tế nên học chuyên sâu vào lĩnh vực đó. Những môn như Dân số, Giao tiếp quốc tế, vv... nên coi là môn tự chọn, ai thích thì học, ai không thích thì mạnh dạn bỏ hẳn; không nên đào tạo ra những người biết chung chung, hoàn hảo chung chung. Như thế, vừa đào tạo được một đội ngũ có chuyên môn chắc ở các lĩnh vực khác nhau, vừa khiến sinh viên tập trung học vào những gì mình thích và không bị phân tán vào những thứ khác. Đây sẽ là một cách hiệu quả để tạo cho sinh viên sự hứng thú trong học tập; đồng thời tập cho họ suy nghĩ về công việc, định hướng sống của mình; cũng như suy nghĩ một cách thực tế, có mục đích với những kiến thức của mình và biết cách tước bỏ những thứ rườm rà.

Ưu việt rõ ràng của mô hình đào tạo để làm việc là nó sẽ liên tục có người khai phá những con đường mới trong lý thuyết và ứng dụng. Ví dụ như trong lúc sinh viên học chuyên sâu một ngành nào đó mà phải dùng tới kiến thức của nhiều lĩnh vực khác nhau, họ sẽ nảy ra những câu hỏi về những vấn đề mới, đưa đến những phát minh mới. Nói cách khác, sự mở đường có thể liên tục được manh nha trong quá trình học và nghiên cứu.

Sinh viên

1. Nâng cao tính tự chủ và quyền của sinh viên:
Giáo dục đại học nói riêng và giáo dục ở Mỹ nói chung chú trọng xây dựng con người có khả năng tư duy độc lập, biết điều mình muốn làm, biết cách suy nghĩ và ra quyết định, biết các quyền và nghĩa vụ của mình; cũng như biết cách thực hành các quyền ấy trong đời sống hàng ngày (ít nhất là tôi thấy biểu hiện của những điều này nhiều hơn rất nhiều so với Việt Nam). Trong giáo dục đại dục, để nâng cao tính tự chủ và quyền sinh viên, các nhà trường xây dựng một quy chế trong đó:

Giáo dục đại học nói riêng và giáo dục ở Mỹ nói chung chú trọng xây dựng con người có khả năng tư duy độc lập.
- Mỗi sinh viên được tự chọn lĩnh vực học, tự chọn lớp học và tự xây dựng lịch học cho mình. Họ không nhất thiết phải tốt nghiệp trong 4 năm, mà chỉ cần hoàn thành một số lượng học trình nhất định; họ có thể hoàn thành nhanh hoặc chậm tùy ý; tuỳ điều kiện; có người học 2 năm, rồi bảo lưu kết quả để đi làm, rồi lại quay lại trường học tiếp.
- Đầu mỗi kỳ học, giáo viên công bố lịch học cụ thể cho cả kỳ học (gọi là syllabus), trong đó ghi rõ các sách phải có cho học kỳ, các nội dung sẽ học với từng ngày lên lớp, và các bài sẽ đọc trong mỗi giờ lên lớp. Giáo viên có thể tải lịch học này lên mạng từ trước học kỳ, để sinh viên biết nội dung lớp học mà quyết định có chọn học hay không (thường sinh viên được khuyến khích đến gặp giáo viên để nói chuyện trước khi kỳ học bắt đầu, để có thể quyết định tốt hơn). Sinh viên thường phải đọc bài trước khi đến lớp và lớp học sẽ mang tính thảo luận, chứ không theo hướng thầy giảng – trò ghi bài.
- Sinh viên được khuyến khích tự học, tự đọc, tự tìm hiểu rất nhiều bên ngoài những gì giảng trên trường. Các bài tập hàng tuần hướng nhiều vào thực hành và kỹ năng phân tích vấn đề, chứ không phải hướng vào việc “thuộc bài”. Ví dụ như bài tập có thể yêu cầu sinh viên phải trực tiếp đi phỏng vấn bên ngoài, đi lấy số liệu để phân tích vấn đề hoặc đọc thêm rất nhiều để viết bài phân tích. Cũng trên khía cạnh này, hầu hết sinh viên Mỹ đều đi làm thêm, trong hoặc ngoài trường. Rất nhiều người làm các công việc bình dân như hầu bàn, đưa báo, lái taxi, khuân vác, bán hàng, vv... và họ thấy rất thoải mái, không có gì phải xấu hổ.
- Sinh viên có thể vay tiền của chính phủ, của trường hoặc các tổ chức tài chính thông qua trường để trả học phí; sau này đi làm, sinh viên sẽ trả lại tiền. Có những sinh viên vay nợ toàn bộ học phí để có thể đi học, tập trung học giỏi; sau khi tốt nghiệp, họ dùng lương trả nợ trong vòng vài năm. Ví dụ, một giáo sư mà tôi quen, mặc dù năm nay đã hơn 40 tuổi, vẫn đang tiếp tục trả nợ tiền học phí từ thời đi học đại học theo kiểu trả từng khoản nhỏ hàng tháng.
- Sinh viên có quyền sử dụng tất cả các cơ sở vật chất trong trường học như thư viện, nhà thể thao, phòng máy tính, lấy giấy chứng nhận điểm học, vân vân... Ví dụ như ở trường tôi (Đại học Chicago – University of Chicago ), mỗi lần vào thư viện, sinh viên tự tra sách, tìm sách trong kho, rồi mượn thoải mái về nhà; sinh viên có thể lấy điểm học bất cứ lúc nào, không mất lệ phí và không cần chữ ký mà có hệ thống chuẩn về việc này.
- Sinh viên được có tổ chức và đại diện để tham gia vào các quyết định của trường học hoặc của khoa, như quyết định về thay đổi chương trình học, quyết định về việc thay hiệu trưởng, quyết định về học phí, về bảo hiểm, về việc xây dựng trường, về các hoạt động xã hội, vân vân...
- Sinh viên có quyền và được khuyến khích trao đổi thẳng thắn với giáo viên; kiến nghị khi có các biểu hiện không lành mạnh ở giáo viên; yêu cầu thay đổi giáo viên không có trình độ chuyên môn, vv...
- Sinh viên có quyền được truy cập hồ sơ về bản thân mình, có quyền xem các nhận xét của giáo viên về bản thân (trừ khi họ ký giấy từ bỏ quyền này) và có quyền kiện khi giáo viên có nhận xét sai hoặc có biểu hiện phân biệt đối xử với mình.
- Cuối mỗi kỳ, sinh viên phải làm một bản đánh giá giáo sư của mình (bảng này không đề tên sinh viên) và điểm đánh giá của các giáo sư được công khai trong trường cho sinh viên xem. Thường trước mỗi học kỳ, khi chọn lớp học, sinh viên hay xem điểm đánh giá giáo viên các năm trước để quyết định.
- Sinh viên có quyền đề cử và bầu các giáo viên giỏi, có tâm huyết vào các chức danh; thay vì để cho nhà trường xét duyệt giáo viên giỏi. Thường cuối mỗi năm học, hiệu trưởng trường hoặc trưởng một khoa gửi thư cho sinh viên toàn trường yêu cầu đề cử giáo viên giỏi. Các sinh viên sẽ viết thư đề cử và ký tên gửi lên hiệu trưởng. Họ công khai các thư này và còn công khai viết thư để vận động trong trường cho giáo viên mà họ kính trọng.

2. Giảm sự coi trọng bằng cấp, điểm, và các thứ hình thức; chú trọng vào con người:
Đây có lẽ là điều mà tôi tâm đắc nhất với hệ thống giáo dục Mỹ nói riêng và hệ thống vận hành của nước Mỹ nói chung: nó chú trọng vào bạn, chính con người bạn – như một cá thể riêng biệt và trọn vẹn; chứ không phải dựa trên những thước đo hình thức chung chung. Điều này được thực hiện thông qua các hoạt động như:
- Việc chọn vào học đại học không thông qua một kỳ thi đại học mà thông qua xét hồ sơ cá nhân, bao gồm học bạ trung học, điểm thi các kỳ thi trắc nghiệm trình độ được chuẩn hoá bởi cơ quan độc lập (SAT), thư giới thiệu của giáo sư hoặc người quản lý, bài tự viết của thí sinh về mục đích và kế hoạch học tập, các tài liệu bổ trợ khác về kinh nghiệm cá nhân, hoạt động ngoại khoá, vv... Hình thức này có thể chưa thực tế ở Việt Nam; tuy nhiên, về lâu về dài, chúng ta nên nghĩ đến việc đánh giá con người dựa trên khả năng và tiềm năng tổng thể thay vì các biểu hiện hình thức và có tính rủi ro cao như thi đại học.
- Không công bố điểm của sinh viên một cách công khai với các sinh viên khác hoặc với giáo viên khác, trừ khi có lí do chính đáng. Nên coi chuyện điểm học là chuyện riêng tư, sinh viên có quyền giữ kín. Điều này để sinh viên có thể có một môi trường bình đẳng với nhau và với giáo viên; tạo cho sinh viên sự tự trọng. Đồng thời, sinh viên phải làm bài liên tục trong kỳ, giữa kỳ và một bài lớn cuối kỳ để tính điểm cho cả học kỳ chứ không theo phương thức “cái chết bất ngờ” như ở Việt Nam (tức là cả kỳ chỉ có một bài thi ở cuối kỳ).
- Không có chính sách ưu tiên với lớp trưởng, cán bộ hoặc con giáo viên. Nếu ai thích làm lớp trưởng hoặc chủ tịch hội sinh viên thì tự ứng cử và sau này sẽ có lợi trong hồ sơ xin làm việc hoặc học bổng; nhưng không đánh đồng hoạt động này với trình độ học hành; do đó không có chuyện cộng điểm cho người hoạt động.
- Sinh viên có quyền chọn học lấy điểm thông thường (A, B, C, D), hoặc chỉ nghe giảng mà không lấy điểm nhưng vẫn có tên môn học trong bảng điểm, hoặc lấy điểm theo chế độ Qua/Trượt (Pass/Fail); như vậy, sinh viên có thể tập trung sức vào những môn mình muốn học

Giáo dục đại học tại Mỹ tạo cho sinh viên môi trường để thực hành quyền làm chủ, nuôi dưỡng cảm giác mình là một người lớn, một công dân ngang bằng với những người khác, có tiếng nói, có sự tự tôn, có các quyền và nghĩa vụ mà mình phải làm. Nó cũng tập cho sinh viên cách tự suy nghĩ, tự ra quyết định và chịu trách nhiệm với các quyết định của mình. Nó tập cho họ sự trung thực, biết rằng sự thực được tôn trọng và do đó mà sống thẳng thắn hơn trong cuộc sống.

và không phải quá lo lắng về điểm ở những môn mình không quan tâm nhiều.
- Nếu sinh viên gặp khó khăn với một môn học dù đã hết sức cố gắng thì có thể nói chuyện với giáo viên để tìm sự giúp đỡ riêng; và miễn là bạn cố gắng, bạn sẽ được đánh giá về cố gắng của bạn. Ví dụ như trong lớp học về phân tích số liệu mà tôi là trợ giảng, có một số sinh viên đã lớn tuổi (trên 50 tuổi), cho nên họ rất chật vật với tính toán và các phần mềm phân tích số liệu mặc dù đã rất cố gắng. Trong trường hợp này, họ sẽ gặp gỡ với giáo sư và trợ giảng hàng tuần để học thêm. Khi xem xét bài làm của họ, chúng tôi thường châm chước các lỗi vì biết họ cố gắng rất nhiều.
- Không quá coi trọng điểm số trong quá trình xét học bổng, xin việc của sinh viên; mà xem xét mỗi người trong hoàn cảnh riêng của họ, xem xét nỗ lực, khả năng và tiềm năng của họ.
Phan Việt
Theo : Tia Sáng
Báo Tia Sáng. Số 1 - 05.01.2006

Tuesday, January 10, 2006

Phát triển bền vững

Phát triển bền vững là gì?

Mục tiêu, Chỉ số, Giá trị, và Thực tiễn

Tác giả Robert W. Kates, Thomas M. Parris, và Anthony A. Leiserowitz

Phát triển bền vững là…

Nếu chỉ xét riêng một thực tế là khái niệm phát triển bền vững đang có mặt trên đầu đề các tạp chí Môi trường, giành vị trí quan trọng trên 8.730.000 trang web và liên quan đến tham vọng của vô số các chương trình, các khu vực, và các tổ chức, thì thật là đơn giản để hoàn thành câu trên2. Nhưng cái định nghĩa được chấp nhận rộng rãi nhất lại quá mơ hồ: “Con người có khả năng tạo phát triển bền vững - để đảm bảo rằng sự phát triển đó đáp ứng nhu cầu của hiện tại mà không làm hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”3. Tính linh hoạt của định nghĩa này cho phép các chương trình về môi trường hay phát triển; từ khu vực tới toàn cầu; và từ các tổ chức chính phủ, tổ chức dân sự, kinh doanh, và các ngành tới mỗi dự án đặt mối quan tâm, hi vọng, và tham vọng lên khẩu hiệu phát triển bền vững.

Dưới đây là lịch sử ngắn gọn về khái niệm, cùng với sự khác biệt về cách hiểu và cơ sở chung trong định nghĩa, mục tiêu, chỉ số, giá trị và thực tiễn. Xem xét các yếu tố này cùng nhau sẽ giúp chúng ta giải thích được phát triển bền vững là gì.

Tiểu sử

Trong nửa cuối thế kỷ 20, 4 vấn đề quan trọng nổi lên trong mối quan tâm và khát vọng của nhân dân thế giới: hòa bình, tự do, phát triển và môi trường4. Nền hòa bình mà ngỡ như được đảm bảo trong thế giới hậu chiến của năm 1945 ngay lập tức bị đe dọa bởi cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân. Suốt thời kỳ chiến tranh lạnh, hòa bình giữ vững được trên toàn cầu nhưng nội chiến lại xảy ra, thường là do các nước siêu cường phát động. Trong khi số lượng các cuộc chiến giảm xuống trong một thế kỷ qua5, thì hòa bình vẫn còn phải tìm kiếm, chủ yếu ở khu vực Châu Phi và ở Trung Đông.

Tự do cũng sớm được tìm kiếm trong thế giới hậu chiến trong sự tranh đấu nhằm chấm dứt chế độ tư bản để ngăn chặn sự áp bức chuyên chính và sau đó mở rộng chính quyền dân chủ, nhân quyền và nữ quyền, người bản xứ và dân tộc thiểu số. Theo sau sự thành công của rất nhiều các quốc gia thuộc địa cũ trong việc giành độc lập dân tộc là việc tập trung vào phát triển kinh tế để cung cấp những nhu cầu thiết yếu cho 2/3 những người nghèo nhất của thế giới và mức sống cao hơn cho 1/3 số người giàu có. Cuối cùng thì trong 40 năm qua, chỉ duy nhất vấn đề môi trường (từ phạm vi quốc gia đến toàn cầu) trở thành mối quan tâm chủ yếu của luật pháp, thể chế quốc gia và quốc tế.

Mặc dù được giải thích lại theo thời gian, hòa bình, tự do, phát triển và môi trường vẫn luôn là vấn đề và khát vọng nổi trội. Vào những năm 1970, 1980, Uỷ ban các vấn đề thế giới6 ra đời để nghiên cứu những mối quan tâm có tính chất quốc tế như vậy, đưa ra những tài liệu quan trọng mà thường theo sau đó là các hội nghị toàn cầu. Đặc trưng của những uỷ ban quốc tế này là nỗ lực để liên kết những khát vọng của nhân loại – cho thấy việc theo đuổi một giá trị lớn phụ thuộc vào các yếu tố khác như thế nào. Phát triển bền vững, với sự nhấn mạnh vào cả 2 vấn đề đang được quan tâm nhất – phát triển và môi trường – là tiêu biểu cho những nỗ lực như thế.

Uỷ ban Thế giới về Môi trường và Phát triển được Đại hội đồng của LHQ khởi xướng vào năm 1982, đến năm 1987 thì bản báo cáo Tương lai chung của chúng ta được xuất bản8. Tại thời điểm đó, Thủ tướng Nauy Gro Harlem Brundtland giữ chức chủ tịch, vì thế nó còn có tên là “ Uỷ ban Brundtland”. Thành viên của Uỷ ban chia thành 2 khối nước: phát triển và đang phát triển. Nguồn gốc của Uỷ ban là từ Hội nghị Stockholm 1972 về Môi trường nhân loại – nơi mà xung đột giữa vấn đề môi trường và phát triển lần đầu tiên được thừa nhận – và trong Chiến lược gìn giữ thế giới của Liên hiệp quốc tế về vấn đề Bảo tồn thiên nhiên năm 1980, tại đó bàn luận việc bảo tồn như là một phương tiện hỗ trợ cho sự phát triển và cụ thể là cho sự phát triển bền vững và cách sử dụng hiệu quả các loài, hệ sinh thái và các nguồn lực8. Rút ra từ những vấn đề này, Uỷ ban Brundtland bắt đầu nhiệm vụ cam kết cho sự thống nhất giữa môi trường và phát triển. Như Brundtland biện luận:

Môi trường không tồn tại như một lĩnh vực tách rời với hoạt động, tham vọng, và nhu cầu của con người và những nỗ lực để bảo vệ môi trường không liên quan đến mối quan tâm của con người đã cho ra đời chính thuật ngữ “môi trường” với hàm ý tính chất ngây thơ chân thật trong giới chính trị. Thuật ngữ “phát triển” cũng bị thu hẹp trong một số mối quan tâm giới hạn, theo hướng “ Các quốc gia nghèo phải làm gì để giàu có hơn?” và như thế một lần nữa đã tự động loại ra nhiều vấn đề trong đấu trường quốc tế bởi vì nó chỉ còn là mối quan tâm của các chuyên gia, của những gì có liên quan đến vấn đề “hỗ trợ phát triển”. Nhưng “môi trường” là nơi chúng ta sống; và “phát triển” là tất cả những gì chúng ta làm trong nỗ lực cải thiện số phận của chúng ta trong cái ngôi nhà đó. Hai cái đó là không thể chia tách.9

Cùng với những nỗ lực trước đây, tiếp ngay theo sau bản báo cáo là những cuộc họp quốc tế quan trọng. Hội nghị Liên hiệp quốc về vấn đề Môi trường và Phát triển (UNCED) tại Rio de Janeiro năm 1992 (cái gọi là “Thượng đỉnh Trái đất”) phát hành một thông báo các nguyên tắc, một chương trình nghị sự 21 chi tiết về những hoạt động cần thiết, những thoả thuận quốc tế về sự thay đổi khí hậu và vấn đề sinh thái và một bản tuyên bố các nguyên tắc về vấn đề rừng10. Mười năm sau đó, vào năm 2002, tại cuộc họp Thượng đỉnh thế giới về vấn đề Phát triển bền vững tại Johannestburg, Nam Mỹ, cam kết phát triển bền vững được tái khẳng định11.Trong giai đoạn quá độ này, phát triển bền vững như một khái niệm, như một mục tiêu và như một phong trào lan rộng nhanh chóng và giờ đây là trọng tâm trong sứ mệnh của vô số các tổ chức quốc tế, các viện nghiên cứu quốc gia, các tập đoàn kinh tế, các “thành phố bền vững” và các địa phương.

Những định nghĩa

Định nghĩa ngắn gọn của Uỷ ban Brundtland về phát triển bền vững như là “khả năng tạo phát triển bền vững để đảm bảo rằng sự phát triển đó đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm hại tới cái khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”12 chắc chắn là một định nghĩa tiêu chuẩn nếu xét về mức độ sử dụng và tần số trích dẫn. Việc sử dụng định nghĩa này dẫn đến đến nhiều cách hiểu phát triển bền vững như là có một mối quan tâm chính về sự phân phối công bằng giữa các thế hệ. Mặc dù định nghĩa ngắn gọn này không đề cập trực tiếp đến môi trường và phát triển, nhưng đoạn tiếp theo sau đó, trong khi rất hiếm khi được trích dẫn, lại rất rõ ràng. Về vấn đề phát triển, bản báo cáo khẳng định rằng nhu cầu của con người là cơ bản và cần thiết; rằng sự tăng trưởng kinh tế - nhưng đồng thời sự công bằng để chia sẻ các nguồn lực với người nghèo – là cần thiết để duy trì chúng; và sự công bằng đó được khuyến khích bởi sự tham gia của những công dân đương thời. Về vấn đề môi trường, bản văn cũng rất rõ ràng:

Khái niệm phát triển bền vững ám chỉ sự giới hạn – không phải là giới hạn hoàn toàn mà là giới hạn đặt ra bởi tình trạng công nghệ và tổ chức xã hội hiện tại về những nguồn lực của môi trường và bởi khả năng của mặt đất có thể chịu đựng được ảnh hưởng của những hoạt động của con người13.

Trong những năm sau bản báo cáo của Uỷ ban Brundtland, tính quá mơ hồ của định nghĩa tiêu chuẩn, trong khi cho phép một loạt các nhóm khác nhau tập hợp lại theo xu hướng phát triển bền vững, cũng đồng thời tạo ra một ngành thực sự giải đoán và giới thiệu phát triển bền vững thực sự là gì. Một nghiên cứu quan trọng – của Uỷ ban về vấn đề phát triển bền vững của Viện hàn lâm khoa học Mỹ - cố gắng đem lại một số phương hướng trong tài liệu của Uỷ ban để những thành viên của nó xem xét lại14. Trong bản báo cáo, Chuyến đi chung của chúng tôi: Một sự chuyển tiếp theo hướng bền vững, Uỷ ban tập trung vào sự khác biệt có vẻ như rõ ràng giữa cái mà những người ủng hộ và những nhà phân tích tìm kiếm để giữ vững và những cái họ tìm kiếm để phát triển, mối quan hệ giữa chúng, và những hiểu biết về vấn đề này trong tương lai (xem Hình 1)

Vì thế, dưới tựa đề “nên gìn giữ điều gì”, Uỷ ban xác định 3 phạm trù chính – thiên nhiên, hệ thống hỗ trợ cuộc sống và cộng đồng – cũng như những phạm trù trung gian cho mỗi loại, như Trái đất, môi trường, và văn hoá. Rút ra từ những tài liệu đã kiểm tra, ban chỉ đạo nhận thấy rằng, thông thường nhất, tầm quan trọng thường đặt vào hệ thống hỗ trợ cuộc sống, mà nó xác định thiên nhiên hay môi trường như là một nguồn dịch vụ hỗ trợ cho cuộc sống thực dụng của nhân loại. Việc nghiên cứu vai trò của hệ sinh thái làm tăng thêm giá trị của định nghĩa này qua thời gian. Ngược lại, một số tài liệu về phát triển bền vững coi trọng thiên nhiên bởi vì cái giá trị thực chất của nó hơn là tính hữu dụng của nó cho con người. Đồng thời, cũng có những yêu cầu tương tự đối với việc gìn giữ sự đa dạng văn hoá, bao gồm cách kiếm sống, tổ chức và khu vực cấu thành những cộng đồng riêng biệt và bị có nguy cơ bị đe dọa.

Tương tự, cũng có ba ý tưởng hoàn toàn khác biệt về vấn đề nên phát triển cái gì: con người, kinh tế và xã hội. Rất nhiều những tài liệu trước đây tập trung vào việc phát triển kinh tế, với những khu vực hoạt động hiệu quả, cung cấp việc làm, mức tiêu thụ mong muốn và của cải. Gần đây, sự chú ý lại chuyển sang việc phát triển con người, nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt vào những giá trị và những mục tiêu như tăng tuổi thọ, giáo dục, công bằng và cơ hội. Cuối cùng, Uỷ ban về Phát triển bền vững cũng xác định nhu cầu phát triển xã hội mà nhấn mạnh vào những giá trị an ninh và sức khoẻ, hạnh phúc của quốc gia, khu vực, và các tổ chức cũng như là trụ cột của mối quan hệ cộng đồng xã hội.

Có một thoả thuận sẵn trong tài liệu là phát triển bền vững ám chỉ mối liên hệ giữa những gì nên gìn giữ và những gì nên phát triển, nhưng ở đây, cũng vậy, sự nhấn mạnh vào tầm quan trọng là khác nhau từ dạng “chỉ gìn giữ” tới “phát triển hầu hết” tới nhiều dạng khác của “và/hoặc”. Tương tự như vậy, thời hạn của mối quan tâm, mà được mô tả một cách mơ hồ trong định nghĩa tiêu chuẩn là “bây giờ và trong tương lai” cũng khác nhau rất lớn. Thời hạn đó được xác định từ hạn hẹp trong một thế hệ - khi mà hầu hết mọi thứ là bền vững – cho đến vô cùng – khi mà chắc chắn không có gì là bền vững.

Hội nghị thượng đỉnh thế giới về vấn đề Phát triển bền vững năm 2002 đánh dấu một sự mở rộng của định nghĩa tiêu chuẩn này với 3 điểm chính của phát triển bền vững: kinh tế, xã hội và môi trường. Tuyên bố Johannesburg tạo nên “một trách nhiệm tập thể” để phát triển và tăng thêm sức mạnh cho những điểm chính của phát triển bền vững đang củng cố lẫn nhau và phụ thuộc lẫn nhau: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường - tại các cấp địa phương, quốc gia, khu vực và toàn cầu”15. Cũng bằng cách đó, Hội nghị thượng đỉnh thế giới đưa ra một mối quan tâm liên tục, vượt qua những giới hạn của hệ thống môi trường và phát triển, nơi mà sự phát triển chủ yếu được nhìn nhận duy nhất là phát triển kinh tế. …Đối với nhiều người theo xu hướng chung của phát triển bền vững, một định nghĩa hẹp như thế cản trở mối quan tâm về phát triển con người, công bằng, và công lý xã hội.

Vì thế, trong khi 3 điểm chính nhanh chóng được chấp nhận, không có một thoả thuận toàn cầu nào đề cập chi tiết đến chúng. Tìm kiếm trên mạng cụm từ “3 điểm chính của phát triển bền vững” cho ra kết quả một loạt các điểm chính khác nhau của môi trường, kinh tế, và xã hội với sự khác biệt dễ nhận thấy nhất trong việc mô tả trụ cột xã hội. Ba biến thể chính của phát triển xã hội được tìm thấy, mỗi một biến thể tìm kiếm một cách bổ sung cho những nhân tố bị mất đi trong việc tập trung hạn hẹp vào phát triển kinh tế. Biến thể thứ nhất đơn giản là một mục tiêu xã hội phi kinh tế tổng quát, mà sử dụng những thuật ngữ như “xã hội” “phát triển xã hội” và “tiến bộ xã hội”. Biến thể thứ hai nhấn mạnh vào việc phát triển con người tương phản với việc phát triển kinh tế: “phát triển con người” “sức khoẻ con người” hay chỉ “con người”. Biến thể thứ ba tập trung vào vấn đề công lý và công bằng: “công lý xã hội” “công bằng” và “giảm nghèo”.