Thursday, May 18, 2006

Top 10 Simple Steps to Reduce Global Warming

Top 10 Simple Steps to Reduce Global Warming

  1. Action: Recycle (paper, plastic, metal, glass)
    Carbon dioxide reduction: 2400 lbs of carbon dioxide/year by recycling half of all household-generated waste

  2. Action: Wash clothes in warm/cold water (not hot)
    Carbon dioxide reduction: 100 pounds of carbon dioxide/year

  3. Action: Don’t overheat or overcool rooms
    Carbon dioxide reduction: 200 lbs of carbon dioxide/year per household for every 2-degree reduction

  4. Action: Turn water heater down to 120 degrees
    Carbon dioxide reduction: 200 lbs of carbon dioxide/year for every 20-degree reduction

  5. Action: Buy CFL light bulbs
    Carbon dioxide reduction: 500 lbs of carbon dioxide/year for replacing home’s most-used lights

  6. Action: Insulate walls and ceilings
    Carbon dioxide reduction: 2000 lbs of carbon dioxide/year

  7. Action: Use your most fuel-efficient car for short trips, less fuel-efficient car only when needed
    Carbon dioxide reduction: 2000 lbs of carbon dioxide/year by shifting 3,000 miles from a car that gets 24 mpg

  8. Action: Replace old appliances with energy-efficient models
    Carbon dioxide reduction: 600 lbs of carbon dioxide/year by replacing old a/c unit with Energy Star

  9. Action: Only run the dishwasher when full, don’t use heat to dry dishes
    Carbon dioxide reduction: 100 lbs of carbon dioxide/year

  10. Action: Caulk and weather strip around doors and windows to plug air leaks
    Carbon dioxide reduction: 650 lbs of carbon dioxide/year

Thursday, May 11, 2006

Research on the Scientific Basis for Sustainability

Table of Contents


Research on the Scientific Basis for Sustainability



Research on the Scientific Basis for Sustainability Summary Report

Wednesday, May 10, 2006

Sustainable Transport

Why transport matters. Contribution of the transport sector towards achieving the Millennium Development Goals
Author: Holm-Hadulla, Fédéric Year of publication: 2005 Language: English Download: 05-0864.pdf (1314 KB)


Sustainable transport: A sourcebook for policy-makers in developing cities. Overview
Year of publication: 2003 Language: English Download: 03-0225.pdf (1824 KB)

Introductory module: Sourcebook overview, and cross-cutting issues of urban transport
Author: Fjellstrom, Karl Year of publication: 2003 Language: English Download: 03-1573.pdf (916 KB)

Module 1a: The role of transport in urban development policy
Author: Peñalosa, Enrique Year of publication: 2005 Language: English Download: 05-0508.pdf (2075 KB)

Module 1b: Urban transport institutions
Author: Meakin, Richard Year of publication: 2004 Language: English Download: 05-0509.pdf (967 KB)

Module 1c: Private sector participation in urban transport infrastructure provision
Author: Zegras, Christopher Year of publication: 2004 Language: English Download: 05-0510.pdf (1114 KB)

Module 1d: Economic instruments
Author: Breithaupt, Manfred Year of publication: 2004 Language: English Download: 05-0511.pdf (2512 KB)

Module 1e: Raising public awareness about sustainable urban transport
Author: Fjellmann, Karl Year of publication: 2004 Language: English Download: 05-0512.pdf (1726 KB)

Module 2a: Land use planning and urban transport
Author: Petersen, Rudolf Year of publication: 2004 Language: English Download: 05-0513.pdf (3328 KB)

Module 2b: Mobility management
Author: Litmann, Todd Year of publication: 2004 Language: English Download: 05-0514.pdf (1660 KB)

Module 3a: Mass transit options
Author: Wright, Lloyd Year of publication: 2005 Language: English Download: 05-0515.pdf (3498 KB)

Module 3b: Bus rapid transit
Author: Wright, Lloyd Year of publication: 2004 Language: English Download: 05-0516.pdf (4720 KB)

Module 3c: Bus regulation and planning
Author: Meakin, Richard Year of publication: 2004 Language: English Download: 05-0517.pdf (1591 KB)

Module 3d: Preserving and expanding the role of non-motorised transport
Author: Hook, Walter Year of publication: 2002 Language: English Download: 03-5417.pdf (2070 KB)

Module 3e: Car-free development
Author: Wright, Lloyd Year of publication: 2005 Language: English Download: 05-0576.pdf (16280 KB)

Module 4a: Cleaner fuels and vehicle technologies
Author: Walsh, Michael; Kolke, Reinhard Year of publication: 2002 Language: English Download: 03-5418.pdf (1163 KB)

Module 4b: Inspection and maintenance and roadworthiness
Author: Kolke, Reinhard Year of publication: 2005 Language: English Download: 05-0520.pdf (2739 KB)

Module 4c: Two-and-three-wheelers
Author: Shah, Jitendra; Iyer, N.V. Year of publication: 2004 Language: English Download: 05-0521.pdf (1376 KB)

Module 4d: Natural gas vehicles
Year of publication: 2002 Language: English Download: 03-5421.pdf (2852 KB)

Module 4e: Intelligent transport systems
Author: Sayeg, Phil; Charles, Phil Year of publication: 2005 Language: English Download: 05-0523.pdf (3900 KB)

Module 4f: EcoDriving
Author: Breithaupt, Manfred; Eberz, Oliver Year of publication: 2005 Language: English Download: 05-0524.pdf (2081 KB)

Module 5a: Air quality management
Author: Schwela, Dietrich Year of publication: 2004 Language: English Download: 05-0525.pdf (2200 KB)

Module 5b: Urban road safety
Author: Lacroix, Jacqueline; Silcock, David Year of publication: 2004 Language: English Download: 05-0526.pdf (1606 KB)

Module 5c: Noise and its abatement
Year of publication: 2004 Language: English Download: 05-0527.pdf (1319 KB)

Module 6: Resources for policy-makers
Year of publication: 2004 Language: English Download: 05-0528.pdf (788 KB)

International fuel prices 2005. 4th edition = 172 countries
Author: Metschies, Gerhard P. Year of publication: 2005 Language: English Download: 05-0538.pdf (4746 KB)

Transport in developing countries: renewable energy or energy reduction? Side event at the Renewables 2004 Conference
Year of publication: 2004 Language: English Download: 05-0376.pdf (1528 KB)

Urban transport and poverty in developing countries. Analysis and options for transport policy and planning
Author: Kaltheier, Ralf M. Year of publication: 2002 Language: English Download: 02-5048.pdf (1144 KB)

Economic instruments for sustainable road transport. An overview for policy makers in developing countries
Author: Schwaab, Jan A.; Thielmann, Sascha Year of publication: 2001 Language: English Download: 02-5049.pdf (1927 KB)

Road network management. Roads - a new approach for road network management and conservation
Author: Schliessler, Andreas; Bull, Alberto Year of publication: 2004 Language: English Download: 05-0087.pdf (4244 KB)

Friday, May 05, 2006

Phát triển bền vững nhìn từ góc độ xã hội và văn hóa

Trần Hữu Dũng

14/07/2005 05:37:28 PM


Từ giữa thập niên 80 đến nay, "phát triển bền vững" đã trở thành một ý niệm thời thượng. Nó là khẩu hiệu của hàng trăm tổ chức quốc tế, đề tài của mấy cục hội nghị, hội thảo toàn cầu, và một tiêu chuẩn quan trọng trong chiến lược phát triển của hầu hết mọi nước. Nguyên thủy, nó phản ánh sự quan ngại đối với một số quốc gia muốn tăng trưởng kinh tế vội vã, chọn cách phát triển thiển cận, miễn sao tăng thu nhập hiện tại cho nhanh, mà không để ý đến những nguy hại dài lâu của lối phát triển ấy đến môi trường sinh thái (tàn phá rừng, sa mạc hóa...), đến trữ lượng hữu hạn của tài nguyên thiên nhiên (quặng mỏ, dầu hỏa, khí đốt).

Ý niệm "phát triển bền vững" nhấn mạnh đến khả năng phát triển kinh tế liên tục lâu dài, không gây ra những hậu quả tai hại khó khôi phục ở những lĩnh vực khác, nhất là thiên nhiên. Phát triển mà làm hủy hoại môi trường là một phát triển không bền vững, phát triển mà chỉ dựa vào những loại tài nguyên có thể cạn kiệt (mà không lo trước đến ngày chúng cạn kiệt thì phải làm sao) là một phát triển không bền vững. Có người còn thêm rằng lối phát triển phụ thuộc quá nhiều vào ngoại lực (như FDI) cũng là khó bền vững, vì nguồn ấy có nhiều rủi ro, không chắc chắn. Nói ngắn gọn, phát triển là không bền vững nếu nó thật "nóng" đó không thể giữ lâu, nền kinh tế chóng rơi vào khủng hoảng, hay ít nhất cũng chậm lại trong tương lai.

Không thể chối cãi: "phát triển bền vững" là một ý niệm hữu ích, đáng lưu tâm. Nhưng chỉ để ý đến liên hệ giữa môi trường sinh thái, tài nguyên thiên nhiên, và tăng trưởng kinh tế là chưa khai thác hết sự quan trọng của ý niệm "bền vững". Ý niệm ấy sẽ hữu ích hơn nếu được áp dụng vào hai thành tố nòng cốt khác của phát triển, đó là văn hóa và xã hội.

Phát triển xã hội bền vững

Nhà xã hội học người Mỹ James Coleman (1926 - 95) phân biệt ba loại vốn: vốn vật thể là kết quả của những biến đổi trong con người để cấu thành tài nghệ và khả năng thao tác, và vốn xã hội.

Theo Coleman, "vốn xã hội" có ba đặc tính. Thứ nhất, nó tùy thuộc vào mức độ các thành viên trong xã hội tin cậy nhau. Nói cách khác, nó tùy thuộc vào nghĩa vụ mà mỗi người tự ý thức, và kỳ vọng của người này ở người khác. Thứ hai, nó có giá trị vì nó "gói ghém" những liên hệ xã hội, và những liên hệ này mang đặc tính của kênh truyền thông. Nói rõ hơn: qua liên hệ tiếp xúc với hàng xóm, bạn bè, mỗi người có thể thu thập nhiều thông tin hữu ích cho cuộc sống, thay thế phần nào những phương tiện truyền thông như sách báo, truyền thanh, truyền hình. Thứ ba, vốn xã hội càng lớn nếu xã hội càng có nhiều lề thói (nhất là những lề thói mà người nào không tuân theo sẽ bị trừng phạt).

Chi tiết hơn, Coleman phân biệt vốn xã hội trong gia đình và vốn xã hội trong cộng đồng. Trong mỗi gia đình, con cái có thể lĩnh hội vốn tài chính, vốn con người, và vốn xã hội trong gia đình. Vốn tài chính là do của cải và thu nhập gia đình. Loại vốn này là một nguồn lực vật chất cho các em: sách vở cần thiết, nơi ngồi học thoải mái, và tiền bạc để ứng phó những nhu cầu thường nhật. Vốn con người là phản ánh trình độ văn hóa của cha mẹ, cho con cái một môi trường hiểu biết thông qua học hành. Vốn xã hội (trong gia đình) thì khác, nó tùy thuộc vào mức quan tâm, thời giờ mà cha mẹ dành cho con cái trong những sinh hoạt trí tuệ. Một gia đình dù giàu có (vốn tài chính sung túc), cha mẹ có học vấn cao (vốn con người nhiều), nhưng nếu thờ ơ với con cái (vì quá bận mưu sinh chẳng hạn) thì sẽ nghèo vốn xã hội trong gia đình. Nói gọn, vốn xã hội trong gia đình tùy thuộc vào sự có mặt của phụ huynh, và sự quan tâm của họ đến con cái.

Vốn xã hội trong cộng đồng cũng có một ảnh hưởng quan trọng trong sự phát triển của lớp trẻ. Vốn này nằm trong liên lạc xã hội giữa phụ huynh, và giữa phụ huynh và các thể chế cộng đồng. Ví dụ, nếu cha mẹ học sinh không biết nhau, hoặc nếu gia đình các em thường thay đổi chỗ ở, thì sẽ khó giúp nhau theo dõi sự học hành, canh chừng các sinh hoạt của con em, và vì thế vốn xã hội sẽ yếu đi.

Đi xa hơn Coleman, Francis Fukuyama (tác giả quyền "Điểm Tận của lịch sử" nổi tiếng) cho rằng vốn con người và vốn xã hội có ảnh hưởng lẫn nhau. Cụ thể, theo ông, vốn con người có thể làm tăng vốn xã hội (người có học sẽ ý thức hơn tầm quan trọng của sự lưu tâm đến con cái, và ngược lại, khi con cái được quan tâm thì sẽ cố gắng học hành, trau dồi vốn con người). Song Fukuyama đưa thêm nhận định: không phải loại vốn nào cũng là tốt. Vốn xã hội có thể xấu (băng đảng tội phạm chẳng hạn), vốn vật thể có thể xấu (vũ khí để làm tội ác), vốn con người có thể là xấu (trí tuệ dùng để nghĩ ra những phương pháp hành hạ, tra tấn, dẫn đến diệt chủng).

Như vậy, theo ý niệm vốn xã hội của Coleman và Fukuyama và nhiều người khác nữa, phát triển không đồng thời nuôi dưỡng vốn xã hội là phát triển không bền vững. Dù rằng, như nhà kinh tế Kenneth Arrow (Nobel 1972) đã chỉ rõ, ưu điểm của vốn xã hội là nó không cạn kiệt qua sử dụng, song cái nguy hiểm là loại vốn này dễ bị suy mòn nếu đường lối phát triển là không đúng, và không thể một sớm một chiều tái tạo hay vay mượn nó được. Chính sách phát triển mà chỉ hô hào làm giàu (thậm chí có người cho rằng phải chấp nhận mức độ tham ô nào đó trong giai đoạn tăng tốc phát triển) sẽ hủy hoại tính cộng đồng, làm mất sự tin cẩn lẫn nhau, và do đó làm suy giảm vốn xã hội. Khó nghĩ hơn, hầu như bất cứ phát triển kinh tế nào cũng cần những luồng chảy lao động (dân vùng này đi làm vùng khác) thông thoáng, tuy nhiên sự di cư này sẽ ảnh hưởng trực tiếp (có phần tiêu cực) đến mối quan hệ gắn bó trong gia đình, và do đó tới vốn xã hội. "Phát triển bền vững" đòi hỏi sự đánh đổi tối ưu, ăn khớp, giữa nhiều diễn biến xã hội và kinh tế khác nhau.

Phát triển văn hóa bền vững

Phát triển bền vững đòi hỏi phải phát triển văn hóa,vì đời sống của chúng ta không thể coi là "khá hơn" (theo bất cứ định nghĩa nào, miễn là nhất quán và trung thực) nếu thiếu một nền văn hóa tốt đẹp.

Gần đây, nhiều nhà nghiên cứu kinh tế và xã hội (tiên khởi là nhà xã hội học người Pháp Pierre Bourdieu (1930-2002) cho rằng, muốn hiểu văn hóa như một nhân tố trong đời sống kinh tế, và nhất là muốn đánh giá vai trò của nó trong tiến trình phát triển, thì nên nhìn nó như một loại vốn - tương tự như ba loại vốn thường biết khác. (Đó là: vốn vật thể, như máy móc, thiết bị; vốn con người, như kỹ năng, kiến thức; và vốn thiên nhiên, gồm những tài nguyên do thiên nhiên cống hiến và môi trường sinh thái).

Thêm một bước, có thể phân biệt hai dạng vốn văn hóa: vật thể và phi vật thể. Vốn văn hóa vật thể là gồm những công trình kiến trúc, đèn đài cung miếu, di tích lịch sử, những địa điểm có ý nghĩa văn hóa. Loại vốn này cung cấp một luồng dịch vụ có thể hưởng thụ ngay (chẳng hạn như du lịch), hoặc là "đầu vào" cho sản xuất những sản phẩm và dịch vụ (văn hóa cũng như ngoại văn hóa) trong tương lai. Dạng kia, vốn văn hóa phi vật thể, là những tập quán, phong tục, tín ngưỡng, và các giá trị khác của xã hội. Loại vốn văn hóa này (cùng những nghệ phẩm công cộng như văn chương và âm nhạc) là một loại dây, một thứ keo gắn kết cộng đồng. Nó cũng cung cấp một luồng dịch vụ có thể hưởng thụ ngay, hoặc dùng để sản xuất những sản phẩm văn hóa trong tương lai.

Những nhận xét trên cho thấy một số mối liên hệ giữa văn hóa, kinh tế và phát triển.

Một là, giá trị kinh tế có thể tăng lên nhờ giá trị văn hóa. Lấy ví dụ một ngôi nhà có tính di tích lịch sử. Ngôi nhà ấy có giá trị kinh tế như một kiến trúc (ngụ cư hoặc thương mại), biệt lập với giá trị văn hóa. Song nhiều người sẽ sẵn sàng mua ngôi nhà đó một giá cao hơn giá trị vật thể thuần túy của nó. Hầu như mọi loại vốn văn hóa vật thể đều có thể được nghĩ đến như ngôi nhà lịch sử trong ví dụ, tức là chúng bơm tiêm giá trị văn hóa vào giá trị kinh tế của vật thể, làm tăng thêm, có thể gấp nhiều lần, giá trị của vật thể ấy.

Hai là, vốn văn hóa giúp ta hiểu sâu hơn về ý niệm tính bền vững của phát triển. Đóng góp của nó vào khả năng phát triển dài hạn không khác gì đóng góp của vốn thiên nhiên. Vì môi trường sinh thái đóng vai trò thiết yếu cho hầu hết hoạt động sản xuất cũng như tiêu dùng, bỏ bê môi trường đó, khai thác quá đáng tài nguyên sẽ làm giảm năng suất và phúc lợi kinh tế. Không bảo tồn vốn văn hóa (để di sản đồi trụy, làm mất bản sắc văn hóa dân tộc) cũng có những hậu quả tai hại như vậy.

Hãy nhìn kỹ xem đường lối phát triển hiện tại của ta có hại gì đến văn hóa không? Sự hủy hoại này có thể dễ thấy như sự suy đồi các di tích lịch sử, những cảnh quan thu hút khách du lịch, nhưng nó cũng có thể khó thấy, như sự suy thoái văn chương, nghệ thuật, ngôn ngữ bản xứ. Sự tràn lan của tiếng Anh ngày nay là một thí dụ nổi bật: hiển nhiên sự phổ cập tiếng Anh sẽ có lợi cho thương mại và công nghiệp cần thiết để phát triển, nhưng nó cũng hút đi phần nào sinh lực phát triển của ngôn ngữ và văn chương bản xứ, làm suy giảm vốn văn hóa.

Cái nguy hiểm là, trong cuộc chạy đua phát triển, ta quên đi những giá trị văn hóa dân tộc, và đến một lúc nào đó, nhìn lại thì đã mất nó từ lâu. Nên nói rõ rằng đây không phải chỉ là bảo tồn văn hóa vì cái hay, cái đẹp của nó, nhưng mà giữ gìn tính kế thừa của văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác, bảo tồn vai trò của nó trong những giai đoạn phát triển về sau. Không có ó thì sự phát triển hôm nay chẳng những què quặt, nhưng còn là một phát triển không bền vững.

Lấy một ví dụ: lối phát triển (trên hầu hết thế giới) hiện nay là nhằm vào tiện nghi, nhưng theo đuổi tiện nghi thường làm mòn đi sự tinh tế thẩm mỹ ("sao cũng được, miễn là tiện lợi" như nhà phê bình mỹ học Virginia Postrel đã nhận xét). Một khi cảm quan thẩm mỹ bị "tầm tầm hóa" thì tính sáng tạo cũng sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực, và không ai có thể nghi ngờ rằng điều này sẽ làm tốc độ phát triển chậm lại. Nói khác đi, lối phát triển chỉ nhằm tăng tiện nghi sinh hoạt, bất chấp mỹ quan văn hóa, là không bền vững.

Tóm lại, nếu ta khẳng định có một mối liên kết giữa vốn kinh tế, vốn văn hóa và vốn xã hội (trong đó có vốn con người), thì hủy hoại vốn văn hóa và vốn xã hội cũng là hủy hoại vốn kinh tế. Nói cách khác, những mất mát, suy đồi không thể phục hồi của văn hóa và xã hội sẽ đe dọa sự bền vững của phát triển kinh tế.

Để Phát Triển Con Người Một Cách Bền Vững

Nguyễn Trọng Chuẩn
Tạp chí Triết học

19/07/2005 02:24:44 PM

Phát triển bền vững, hay phát triển lâu bền (Sustainable devlopment), đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng nhất của hầu hết các quốc gia trên thế giới trong thời đại cách mạng khoa học và công nghệ hiện nay. Trong định hướng chiến lược phát triển này của các nước, không chỉ có việc giải quyết mâu thuẫn giữa một bên là sản xuất vật chất ngày một tăng nên nhanh chóng và bên kia là sự suy thoái ngày một nghiêm trọng hơn của môi trường tự nhiên trở nên cấp bách, mà cả việc phát triển con người một cách bền vững trong sự phát triển chung đó cũng trở nên hết sức cấp bách.

Tính cấp bách của việc phát triển bền vững thể hiện qua hàng loạt các cảnh báo từ cuối những năm 60 đầu những năm 70 từ phía câu lạc bộ Rôma; qua thông điệp của các hội nghị quốc tế về môi trường và phát triển suốt từ thập niên 70 thế kỷ XX đến nay, mở đầu bằng Hội nghị Quốc tế về con người và môi trường diễn ra lần đầu tiên vào tháng 6 năm 1972 tại Stốckhôm (Thuỵ Điển) với lời kêu gọi “Hỡi loài người! Hãy cứu lấy cái nôi sinh thành đang bị chính bàn tay của mình huỷ hoại”. Thập niên nhận thức (1972 - 1982) và thập niên hành động (1982 - 1992) đã làm sáng tỏ được nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng về môi trường và phát triển, nhất là đã xác định rõ hơn khái niệm phát triển bền vững. “Tuyên ngôn Riô - 92” (6- 1992) khẳng định rằng, phát triển bền vững là “sự phát triển kinh tế - xã hội lành mạnh, dựa trên việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu của thế giới con người hiện nay và không ảnh hưởng bất lợi đối với các thế hệ tương lai trong việc thoả mãn những nhu cầu của họ”(1).

Như vậy, ở đây, phát triển bền vững được hiểu trước hết là sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, đó là sự phát triển không chỉ cho thế hệ hiện tại, mà còn cả cho thế hệ mai sau và một điều không kém phần quan trọng là sự phát triển đó không gây tổn hại cho mỗi trường tự nhiên. Sự phát triển bền vững ấy được tạo nên từ nhiều yếu tố khác nhau như kinh tế, khoa học, công nghệ, môi trường (cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội), con người, v.v.v.v. Đến lượt mình, chính sự phát triển bền vững về các mặt kinh tế, xã hội, môi trường, khoa học, công nghệ,.v.v.. lại là cơ sở quan trọng không thể thiếu được cho sự phát triển con người bền vững - mục tiêu cao nhất của sự phát triển.

Con người, như chúng ta biết, là một thực thể sinh học - xã hội, trong đó mặt xã hội và ngược lại. C.Mác đã từng nói rằng, “con người trực tiếp là thực thể tự nhiên,… Nhưng con người không chỉ là thực thể tự nhiên, nó là thực thể tự nhiên có tính chất người, nghĩa là thực thể tồn tại cho bản thân mình và do đó là thực thể loài”(2). Do vậy, phát triển con người hơn thế nữa, phát triển con người một cách bền vững, có nghĩa là phải phát triển nhiều mặt, cả mặt tự nhiên lẫn mặt xã hội; phải phát triển toàn diện con người không chỉ trong một thời gian nhất định, mà là suốt cả cuộc đời; không chỉ là một thế hệ mà là của nhiều thế hệ, của cả dân tộc. Đồng thời, cần thấy rằng, con người với tính cách là một thành viên của gia đình, của cộng đồng, của xã hội, vừa là sản phẩm của lịch sử, vừa là một thành tố góp phần làm nên lịch sử, do vậy, con người gắn bó với cả quá khứ lẫn hiện tại và với tương lai của cộng đồng, của các thế hệ nối tiếp nhau. Đặt việc phát triển con người trong sự nối tiếp nhau liên tục giữa các thế hệ như vậy có nghĩa rằng không chỉ phải chăm chút cho một thế hệ, mà là phải quan tâm đến cả các thế hệ thời lẫn các thế hệ tương lai, và điều đó càng làm lổi bật tính tất yếu của sự phát triển con người một cách bền vững.

Sự tồn tại của xã hội không thể thiếu sự phát triển kinh tế. Song, đối với xã hội văn minh thì sự phát triển kinh tế - xã hội không phải là mục đích duy nhất, không phải là mục đích tự thân mà phải chính là để phục vụ con người, để phát triển con người. Do vậy, phát triển con người, hơn thế nữa, phát triển con người một cách bền vững, chính là mục tiêu của sự phát triển. Để đạt được một sự phát triển như vậy thì đối với mỗi quốc gia, trước hết, phải khác phục hoặc giảm tới mức thấp nhất sư chênh lệch giầu nghèo quá mức nhằm tạo cho mọi người có cơ hội phát triển. Nếu một sự phát triển chỉ lấy GDP làm thước đo duy nhất thì rất có thể đạt được sự tăng trưởng kinh tế lẫn sự phát triển xã hội nhưng chưa hẳn môi trường sống - cơ sở tồn tại tư nhiên của con người - đã được bảo vệ, chưa hẳn đã có sự tiến bộ xã hội và càng chưa hẳn đã có sự phát triển con người, thậm trí có khi con người vẫn bị lằm trong sự lãng quên, trong sự đói nghèo, trong sự thất học, trong tình trạng mất dân chủ, mất nhân phẩm và mất cả nhân quyền ở một tầng lớp người nhất định nào đó. Thế giới đương đại đang chứng kiến không ít những điều như vậy. Do đó, cần phải gắn kết sự tăng trưởng kinh tế với sự phát triển và tiến bộ xã hội, đặc biệt là với sự phát triển con người một cách bền vững, với những cơ hội được tạo ra để cho con người tự lựa chọn.

Tóm lại, có thể nói rằng, phát triển con người một cách bền vững là phát triển thường xuyên, liên tục và lâu dài tất cả những năng lực thể chất, tinh thần, trí tuệ, nhân cách, tức là phát triển những năng lực bản chất nhưng đang ở dưới dạng tiềm năng của con người nhằm làm phong phú thêm và ngày một nâng cao hơn chất lượng cuộc sống của mỗi người cũng như của cả cộng đồng, đồng thời qua đó tạo động lực bền vững cho sự phát triển kinh tế - xã hội.

Để có thể phát triển con người một cách bền vững theo cách hiểu như vậy thì cần có cách tiếp cận đúng, cần tuân thủ quan điểm phát triển và quan điểm toàn diện.

Trong thời gian khá dài, người ta chỉ xét con người và coi con người như là một nguồn lực giống như tất cả các nguồn lực khác, hoặc tốt nhât cũng chỉ coi là nguồn lực đặc biệt, trong nền sản xuất xã hội, trong sự phát triển kinh tế - xã hội. Cách tiếp cận này có vai trò tích cực nhất định của nó khi nó coi việc khai thác nguồn lực con người là cách thức hữu hiệu để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Quả thật cách tiếp cận này không những khác phục sự phiến diện của quan điểm không tính đến nguồn lực con người, chỉ chú trọng đến các nguồn lực vật chất, mà còn chỉ ra được sức mạnh và vai trò quan trọng nhất của nguồn lực con người trong hệ thống các nguồn lực. Song, chính quan điểm này lại cũng rất dễ dẫn người ta rơi vào một sự phiến diện khác khi chỉ nhấn mạnh việc sử dụng, việc khai thác mà không chú trọng trến thực tế và đúng mức tới sự bồi dưỡng và phát triển lâu dài, không coi sự phát triển nhiều mặt và phát triển toàn diện con người, không coi chất lượng cuộc sống hay hạnh phúc của con người là mục tiêu cao nhất mà mọi sự phát triển đều phải hướng vào.

Hơn lúc nào hết, giờ đây trên bình diên quản lý vĩ mô đối với sự phát triển kinh tế -xã hội, cần khoán triệt quan điểm coi con nguời vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển; phải xem xét và giải quyết mọi vấn đề về con người trên quan điểm phát triển và quan điểm toàn diện. Nếu chỉ xét con người từ góc độ là nguồn lực, thậm chí là động lực, của sự phát triển thì rất có thể người ta sẽ chỉ chú ý tới việc khai thác con người sao cho hiệu quả nhất, còn việc đầu tư phát triển con người sao cho bền vững nhất sẽ không chánh khỏi việc xem nhẹ.

Trái lại, nếu coi con người không chỉ là nguồn lực, là động lực, mà hơn hết, coi con người là mục tiêu của sự phát triển thì không những sự đầu tư để phát triển mọi năng lực bản chất đang tiềm tàng của con người về mặt sinh thể cũng như về mặt tinh thần và tiềm năng nhân cách phải khác hơn, mà ngay cả phương pháp đánh giá hiệu quả của sự đầu tư đó cũng sẽ phải khác hơn rất nhiều. Bởi vì, hiệu quả của sự đầu tư vào phát triển con người thường chỉ thấy được trong khoảng thời gian dài hoặc đôi khi phải chờ đợi, phải đón đầu các quá trình sản xuất hoặc kinh tế - xã hội sẽ diễn ra, trong đó con người được đào tạo nhiều mặt cho sự phát triển rẽ phát huy tác dụng.

Như mọi người đều biết, toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực và nền kinh tế tri thức đang hiển hiện trước mắt nhân loại. Chúng là những thách thức nhưng cũng tạo ra cơ hội rất lớn đối chúng ta, cho nên việc phát triển nhanh chóng và bền vững năng lực tri tuệ của từng con người cũng như của cộng đồng dân cư phải được coi là nhiệm vụ ưu tiên trong chương trình phát triển.

Toàn cầu hoá và nền kinh tế tri thức, một mặt, tạo ra những khả năng và cơ hội phát triển to lớn cho các dân tộc và các quôc gia. Mặt khác, chính trong toàn cầu hoá và kinh tế tri thức cũng đang tiềm ẩn những nguy cơ làm cho khoảng giầu nghèo và tình trạng bất bình đẳng giữa các quốc gia, các dân tộc ngày một sâu sắc hơn. Muốn không bi tụt hậu xa hơn, chúng ta phải huy động mọi nguồn lực của đất nước. Song phải thấy rằng, tuy phong phú về nguồn lực, song nhiều nguồn lực cho phát triển của chúng ta là có hạn. Cái mà chúng ta có thể mạnh và tương đối dồi dào chính là con người. Thời gian qua, chúng ta đã nhìn thấy vai trò động lực của con người trong sự phát triển nền kinh tế - xã hội, đã có những chính sách cụ thể nhằm khai thác một cách có hiệu quả hơn nguồn lực nguồn lực này. Đảng và Nhà Nước ta cũng đã nhiều lần nhấn mạnh vai trò quan trọng của nguồn lực con người và khẳng định rằng, “giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu”(3).

Tuy nhiên, phải thẳng thắn thừa nhận những sự yếu kém cả trong việc khai thác và sử dụng lẫn trong trong việc phát triển con người. Mặc dù giáo dục, đào tạo cùng các chính sách xã hội đã từng bước hường vào đào tạo con người đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đã thu được những thành quả nhất định, song, giáo dục, đào tạo và cả xã hội không những chưa làm tốt được việc phát triển con người một cách bên vững về thể chất cho thế hệ trẻ với tính cách là cả hai mặt quan trọng nhất trong sự phát triển con người một cách bền vững.

Mọi người đều thất rằng, cơ sở vật chất cho giáo dục và rèn luyện thể chất từ tuổi mẫu giáo cho đến sinh viên đại học quá thiếu thốn. Trường sở ở tất cả các bậc học quá chật chội. Học sinh, sinh viên không có chỗ vui chơi, tập luyện thể thao. Nhiều giảng đường của nhiều trường đại học, kể cả đại học cấp quốc gia, không đáp ứng được những đòi hỏi tối thiểu về mặt sư phạm.

Tuy nhiên, điều đáng lo ngại nhất trong việc phát triển con người một cách bền vững nằm ở việc phát triển khả năng tư duy và óc khám phá, sáng tạo của học sinh, sinh viên. Sự nhồi nhét kiến thức theo lối áp đặt kèm theo việc quá thiếu sách tham khảo có chất lượng đang là nguy cơ bào mòn trí tuệ của thế hệ trẻ. Về điều này công luận đã nói rất nhiều, thiết nghĩ không cần nói cụ thể thêm.

Theo tôi, cái gây trở ngại nhất và cũng đáng nói nhất chính là ở chỗ, một mặt, chúng ta không chựu rứt bỏ những gì đã lỗi thời, giảm thiểu những gì cần phải giảm, không kiên quyết đổi mới triệt để trong giáo dục và đào tạo giống như đã kiên quyết đổi mới trong kinh tế, không mạnh dạn loại bỏ và trừng trị thích đáng những sự gian dối, không trung thực trong giáo dục. Mặt khác, đã có thời kỳ chúng ta vội vàng loại bỏ cả những gì là có giá trị, kể cả giá trị mang tính chất truyền thống, đa đạt được trong giáo dục các giai đoạn trước.

Dễ dàng nhận ra rằng, tất cả những cái yếu kém và khuyết điểm đó đang làm xói mòn lòng tin và nhiệt huyết học tập, làm giảm khả năng khám phá, óc sáng tạo của con người, nhất là của thế hệ trẻ. Nều không nhanh chóng đổi mới tư duy giáo dục và nhận thức lại mục tiêu chung cùng những yêu cầu cụ thể cần đạt được trong giáo dục rồi từ đó, tiến hành xây dựng lại chương trình, giáo trình, phương pháp giảng dạy và đánh giá chất lượng , đầu tư tài chính và cơ sở vật chất tương xứng ở tất cả các bậc học nhằm đào tạo ra những con người vừa có đủ kiến thức trình độ hiện đại, vừa có khả năng khám phá, sáng tạo và thích nghi nhanh, vừa có nhân cách và sức khoẻ thì chưa biết đến bao giờ mới có thể chấm dứt được tình trạng kém cỏi trong việc phát triển con người, nhất là thế hệ trẻ của chúng ta.

Bên cạnh việc đào tạo thì việc sử dụng nguồn lực con người nói chung và sử dụng tài năng nói riêng trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo cũng có nhiều điều để bàn luận. Hãy cứ nhìn vào đội ngũ thầy giáo, cô giáo ở các trường đại học thì thấy rõ. Đội ngũ này vừa quá yếu, vừa quá thiếu vì nhiều nguyên nhân, song có phần không nhỏ là do không có chính sách khuyến khích người tài. Đáng nói nhất là chính sách lương và chính sách tài chính cho nghiên cứu khoa học. Sự bất hợp lý trong hai chính sách này vừa đang đầy tài năng trẻ ra nước ngoài, vừa làm hụt hẫng nghiêm trọng đội ngũ cán bộ khoa học có trình độ cao ở trong nước. Tình trạng “cá đối bằng đầu”, thiếu những người đứng đầu ngành giỏi đang là nguy cơ làm giảm hơn chất lượng đối với giáo dục đại học của chúng ta. Sự cứng nhắc trong chính sách bắt cán bộ khoa học giỏi, các giáo sư có nhiều kinh nghiệm còn đủ năng lực khoa học và sức khoẻ về hưu đồng loạt cũng là điều lãng phi đáng tiếc. Đào tạo tốt và sử dụng hợp lý, đúng chỗ các nhà khoa học, đội ngũ giáo viên là những đảm bảo chắc chắn cho sự phát triển con người một cách bên vững. Trong triết học đã từng lưu truyền về một tư tưởng được coi như một chân lý rằng, “ đầu tư cho người đàn ông, ta được người chồng tốt. Đầu tư cho người phụ nữ, ta được một gia đình tốt. Đầu tư cho người thầy giáo, ta được một thế hệ tốt”. Thiết nghĩ, đầu tư cho giáo dục, đầu tư cho người thầy giáo đó cũng là một trong nhiều việc cần làm ngay vì sự phát triển con người một cách bền vững.

Tóm lại, để phát triển đất nước, để xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng ,dân chủ, văn minh”, chúng ta phải huy động mọi nguồn lực,trong đó có nguồn lực con người. Tuy nhiên, việc huy động nguồn lực con người mới chỉ là một mặt phục vụ cho công cuộc phát triển. Muốn phát triển bền vững tất cả các nguồn lực khác, đặc biệt là phát triển con người một cách bền vững. Đầu tư để phát triển con người một cách bền vững là đầu tư có hiệu quả lâu dài nhất, chắc chắn nhất cho sự phát triển của đất nước. Sự phát triển con người một cách bền vững đòi hỏi phải phát triển nhiều mặt, phát triển toàn diện con người thuộc nhiều thế hệ, từ sức khoẻ, thể chất đến tinh thần, trí tuệ, từ ý thức công dân đến sự phát triển và hoàn thiện nhân cách. Sự phát triển con người một cách bền vững là đảm bảo chắc chắn nhất cho mọi sự phát triển cả trong hiện tại lẫn tương lai.

Theo Tạp chí Tia Sáng



Tuesday, May 02, 2006

Guiding Principles of Sustainable Design


G
uiding Principles of Sustainable Design





Table of Contents Feedback Next Chapter